Cầm máu sát khuẩn từ cây thơm ổi - Thuocquy.com.vn

Cầm máu sát khuẩn từ cây thơm ổi

Thứ tư , 26/11/2014, 04:32 GMT+7
     
Cây thơm ổi mọc hoang ở nhiều nơi, thường gặp ở đồi, bãi trống. Nhưng hiện nay cây cũng trồng làm cảnh vì có hoa rất đẹp và nở quanh năm. Trong đông y thơm ổi có tác dụng tiêu độc, tiêu sưng rất hiệu quả

Tên gọi khác: Cây ngũ sắc, hoa tứ quý, hoa tứ thời, mã anh đơn, ổi nho, bông ổi, người Tày gọi là nhà khí mu.

Tên khoa học: Lantana camara L., thuộc họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae.

Đặc điểm: Cây nhỏ, cao tới 1,5m-2m hay hơn. Thân có gai; cành dài, hình vuông, có gai ngắn và lông ráp. Lá mọc đối, khía rạng, mặt dưới có lông. Cụm hoa là những bông co lại thành đầu giả mọc ở nách các lá ở ngọn. Hoa lưỡng tính, không đều, thoạt tiên vàng dợi rồi vàng kim, vàng tươi, sau cùng đỏ chói, ít khi toàn hoa trắng. Quả bạch hình cầu, nằm trong lá dài, khi chín màu đen; nhân gồm 1-2 hạt cứng, xù xì. 

Cây thơm ổi (hoa tứ thời)

Lưu ý: Cây thơm ổi  (Lantana camara L.) thuộc họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), tránh nhầm với cây cứt lợn (Ageratum conyzoides L.) thuộc họ cúc (Asteraceae) chữa viêm xoang mũi.

Bộ phận dùng: Lá, hoa và rễ - Folium, Flos et Radix Lantanae.

Thành phần hoá học: Lá chứa 0,2% tinh dầu; ở hoa khô chỉ có 0,07%. Tinh dầu có 8% terpen bicyclic và 10-12% L-a-phelandren. Tinh dầu bông ổi Ấn Độ chứa cameren, isocameren và micranen. Trong vỏ có 0,08% lantanin, là một alcaloid. Lá trong thời kỳ có hoa chứa 0,31-0,68% lantanin, còn có lantaden.

Công dụng: Lá có vị đắng, hôi, tính mát, hơi có độc, có tác dụng hạ sốt, tiêu độc, tiêu sưng. Hoa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng cầm máu. Rễ có vị dịu, tính mát, có tác dụng hạ sốt, tiêu độc, giảm đau. Người ta biết lantanin, cũng như quinin, làm giảm sự tuần hoàn và hạ nhiệt.

  Rễ thường dùng trị sốt lâu không dứt, quai bị, phong thấp đau xương, chấn thương bầm giáp. Hoa dùng trị lao với ho ra máu và hạ huyết áp. Liều dùng 30-60g, dạng thuốc sắc. Lá dùng ngoài đắp vết thương, vết loét hoặc dùng để cầm máu; cũng dùng trị ghẻ lở, viêm da, các vết chàm và dùng chườm nóng trị Thấp khớp. Thường dùng tươi giã đắp ngoài hay nấu nước để rửa. Hoa dùng làm thuốc trị ho với liều 12g, dạng thuốc sắc hay hâm nóng hoặc chế xi rô.

 

Bài thuốc có cây thơm ổi theo đông y:

Bài 1. Chấn thương bầm giập, vết thương chảy máu, giã lá tươi đắp ngoài. Hoặc dùng 30g lá khô, với 10g gừng khô tán bột rắc lên vết thương ngày một lần.

Bài 2. Trị chứng bệnh đái tháo đường: Lấy toàn bộ cả cành, lá và hoa cây thơm ổi phơi khô. Thái khúc cho vào lọ đậy kín. Dùng dần, mỗi ngày lấy khoảng 40g, cho 500ml nước, sắc còn 150ml, uống thay trà hàng ngày. Có thể kết hợp thêm ǎn cháo nấu từ củ mài và củ súng thì càng tốt. Dùng liền 10 ngày.

Bài 3. Chữa ho do lạnh: Lấy hoa thơm ổi 20g để tươi hoặc 10g phơi khô, sắc với 500ml nước còn 100ml, uống trong ngày. Dùng riêng hoặc phối hợp với hoa hòe sao đen và rễ bạch cập, mỗi thứ 8g. Có thể thêm đường cho dễ uống. Nước sắc này còn chữa cảm sốt, tăng huyết áp. Dùng liền 5 ngày.

 

Bài 4.  Chữa mẩn ngứa: Lá và hoa thơm ổi khoảng 30 - 50g, nấu lấy nước đặc, tắm, ngâm rửa hằng ngày.

Bài 5. Chữa cảm mạo: Cây thơm ổi, lá chanh, lá bưởi, lá sả, lá tre, lá hương nhu, tía tô, lá trắc bá, lá sắn dây... mỗi thứ một nắm, rửa sạch, cho vào nồi nấu nước xông trừ cảm mạo sau đó ăn cháo nóng, đắp chăn.

Bài 6. Thuốc cầm máu, sát khuẩn, chữa vết thương nhỏ hẹp: Lá và hoa thơm ổi 30g phối hợp với gừng tươi 10g, phơi hoặc sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, rắc vào vết thương. Ngày thay băng một lần hoặc lá thơm ổi để tươi, rửa sạch, giã đắp vào vết thương.  Nếu vết thương rộng thì sơ cứu xong sau đó đến cơ sở y tế  để được cấp cứu.

Nguồn: tổng hợp
thơm ổi hoa tứ thời chữa ho chữa mẩn ngứa